Uncategorized

Bệnh sợ hãi

Bệnh sợ hãiChị ta yếu đi và bị sút cân. Chị ta coi đó là một ấu hiệu đã bị bùa chú, do đó chị ta càng hốt hoảng và sợ hãi. Chứng hoảng hốt của chị ngày càng tăng lên.
Ở trẻ con bú hoặc trẻ nhỏ, chứng bệnh hoảng hốt lại thường rất khác. Nằm mê thấy những điều ghê sợ có thể làm đứa trẻ khóc nức nở trong giấc ngủ hoặc hốt hoảng tỉnh dậy. Sốt cao do bất cứ bệnh gì có thể gây nói năng rất kỳ cục hoặc cư xử lạ lung (nói mê). Một đứa trẻ trông luôn luôn có vẻ lo nghĩ và hay quấy có thể do không được nuôi nấng tốt. Đôi khi những dấu hiệu sớm của uốn ván hoặc viêm màng não cũng được gọi là hoảng hốt.
Cách chữa
Khi hoảng hốt do một bệnh đặc thù gây ra, hãy chữa bệnh đó. Giúp cho người bị bệnh hiểu rõ nguyên nhân của nó. Nếu cần, hãy tìm lời khuyên của thầy thuốc.
Khi hoảng hốt do một cơn sỡ hãi gây ra, hãy cố an ủi người bệnh và giúp người đó hiểu rằng chính sự sợ hãi là nguyên nhân của bệnh. Chữa bằng quỷ thuật và các vị thuốc địa phương đôi khi có tác dụng.
Nếu người bị sợ hãi thở mạnh và nhanh quá, có thể người đó có thể bị mất nhiều không khí (khí ô-xy) – điều này có thể phần nào gây ra hậu quả.
Cơn hoảng sợ cực độ hoặc bệnh it-ste-ri với nhịp thở sâu và nhanh
Dấu hiệu
Người bị bệnh rất hoảng sợ
Nhịp thở nhanh và sâu
Tim đập nhanh và mạch thình thình
Mắt, tay hoặc chân bị tê đi hoặc ngứa ran
Chuột rút các bắp thịt
Cách chữa
Để người bệnh càng nằm yên càng tốt
Bảo người đó úp mặt vào trong một túi bằng giấy và thở chậm, phải tiếp tục thở trong túi đó từ 2 đến 3 phút
Điều này thường sẽ làm cho người đó dịu đi
Giải thích cho người đó là bệnh không có gì nguy hiểm và sắp khỏi
Những hiểu lầm do lẫn lộn và tên gọi
Trong trang sách này có nêu 2 thí dụ về những sự hiểu lầm về một số tên như “ung thư” và “bệnh hủi” mà cán bộ y tế hiểu một cách và những người địa phương hiểu một cách khác. Khi trao đổi với các cán bộ y tế và khi dùng cuốn sách này.
Cần tránh hiểu lầm – hãy xét theo các dấu hiệu và bệnh của người ốm, chứ đừng xét theo tên mà người ta gọi.
Tên bênh: Ung thư
Dân quê ở Mê Hi Cô dùng từ ung thư cho bất kỳ bệnh nhiễm khuẩn trầm trọng nào ở ngoài da, đặc biệt là do các vết thương nhiễm khuẩn nặng hoặc trong trường hợp bị hoại thư.